Vietnam Library Network, Overseas Vietnamese - Người Việt Hải Ngoại
To provide the opportunities for promoting the Vietnamese language and culture to the Vietnamese communities around the world.
 
 FAQFAQ   SearchSearch   MemberlistMemberlist   UsergroupsUsergroups   RegisterRegister 
 ProfileProfile   Log in to check your private messagesLog in to check your private messages   Log inLog in 

Ngôn Ngữ Việt Phong Phú

 
Post new topic   Reply to topic    Vietnam Library Network, Overseas Vietnamese - Người Việt Hải Ngoại Forum Index -> Vietnam National Language Academy - Văn Lang Corner
View previous topic :: View next topic  
Author Message
vietnamlibrary
Site Admin


Joined: 14 Jun 2007
Posts: 5761
Location: Little Saigon Southern California

PostPosted: Tue Jul 21, 2009 10:19 pm    Post subject: Ngôn Ngữ Việt Phong Phú Reply with quote

Ngôn Ngữ Việt Phong Phú

C

Cậu Cẩn con của cụ Chánh, cháu của cô Cúc, cháu của chú Chiến. Cậu Cẩn
có con chó cỡ con chồn, cẳng con chó cao cở cẳng con cò, cổ cũn cởn cở
cổ con cóc. Cổ con chó cậu cột cái chuông. Cậu cưng con chó cùng cực,
con chó cũng cưng cậu. Cứ chiều chiều cậu cõng con chó, cầm chiếc cần
câu chăm chỉ câu cá chép cạnh chân cầu cuối cồn cát. Cậu chăm chú canh
chừng cước cần câu, chốc chốc cậu cất cao cần câu coi. Con cá chép cắc
cớ cắn câu, cậu Cẩn cất cao cần câu, cậu cười. Chốc chốc cả con cá
chuối cũng cắn câu. Cậu Cẩn cầm con cá chuối chặt cổ, chìa cho con chó
cưng của cậu. Con chó của cậu cắn cổ con cá chuối co cẳng chạy. Cậu
Cẩn cất cần câu, cùng các cậu choai choai chơi cờ cạnh cổng chợ.

Chơi cờ chán chê, cậu cõng con chó. cầm con cá chép cậu chuồn. Cậu Cẩn
cho con chó của cậu chui chuồng, cậu cầm con cá chép cậu cạo, cậu
chặt, cậu cho chảo cậu chiên. Cá chín, cậu Cẩn cùng cụ Chánh chén cá
chép chiên chấm cà cuống cùng chuối chát. Con chó cưng của cậu Cẩn cứ
chập chờn cửa chuồng chở chực. Cuối cùng cậu Cẩn cho con chó chén cơm
chiên cùng chút cá chép. Con chó cạp chén cơm chui chuồng.

Cụ Chánh côi cút, cụ cũng có con chim chích choè cùng cái chuồng chim
cáo cạnh, cụ cưng con chim của cụ. Cứ chốc chốc cụ cầm cái chổi chà
chống chân, cụ chầm chậm chộp các chú chuồn chuồn chập chờn cạnh cây
cam cho con chim của cụ chén. Có chiều, cậu Cẩn cùng các chú choai
choai câu cá, câu cua chỗ cống của cậu Cử. Cậu cột con chó cưng của
cậu cạnh cửa. Con chó của cậu Cẩn cà chớn cứ chực cắn con chim của cụ
Chánh. Cụ Chánh cầm cây chổi chọc con chó, con chó co cẳng chạy. Cụ
Chánh cảnh cáo cậu Cẩn, cậu chỉ cười cậu còn cãi cối.

Cũng có chiều cậu Cẩn cần công cán chỗ công cộng. Cậu cũng cột con chó
của cậu cạnh cửa chuồng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn chơi cờ. Cụ Chẩn cũng
có con chó choai choai, cụ chẳng coi chừng, cụ cột con chó cạnh chỗ
con chim của cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cùng con chó của cậu Cẩn
cắc cớ chỉ chờ chực cắn chim của cụ Chánh.

Cụ Chánh cầm cây cố cản, con chó cứ cào cấu, cứ cằn cằn. Chợt con chó
của cậu Cẩn chồm cẳng cao cắn cái chuồng chim của cụ Chánh. Con chim
chích choè chạy cuống cuồng cầu cứu cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cắn
cụt cánh, con chó của cậu Cẩn chặn cửa cắn chân, cắn cổ con chim. Chim
của cụ Chánh cụt cẳng, cụt cánh, cuối cùng chết cứng, chỉ còn cái chân
còn cục cựa.

Cụ Chánh cay cú cầm cây cối chục cân cất cao choảng con chó. Con chó
của cụ Chẩn cà cuống co cẳng chạy. Cái cối cán cẳng con chó của cậu
Cẩn cái "cộp" chát chúa, con chó cố chạy - cụ Chánh cầm cây cuốc cuốc
cổ con chó. Con chó của cậu Cẩn chùn chân. Cuối cùng cụ Chánh chém con
chó chết cứng.

Cụ Chánh cùng cụ Chẩn cắt cổ con chó, các cụ cầm chép các cụ cạo, các
cụ chất con chó cạo vào chỗ có củi cháy.

Cẳng con chó cong cong, các cụ chờ con chó chín các cụ chặt, các cụ
cưa. Cụ Chánh cất cho cậu Cẩn cái cẳng, cái cổ. Còn cả con chó các cụ
cho chảo các cụ chiên. Con chó chết các cụ có cớ chè chén. Chó chiên,
chả chìa, củ chuối. Chốc chốc các cụ cùng chạm cốc, các cụ cười.

Cậu Cẩn con của cụ Chánh, cháu của cô Cư, cháu của chú Chiến. Cậu Cẩn
có con chó cỡ con chồn, cẳng con chó cao cở cẳng con cò, cổ cũn cởn cở
cổ con cóc. Cổ con chó cậu cột cái chuông. Cậu cưng con chó cùng cực,
con chó cũng cưng cậu. Cứ chiều chiều cậu cõng con chó, cầm chiếc cần
câu chăm chỉ câu cá chép cạnh chân cầu cuối cồn cát. Cậu chăm chú canh
chừng cước cần câu, chốc chốc cậu cất cao cần câu coi. Con cá chép cắc
cớ cắn câu, cậu Cẩn cất cao cần câu, cậu cười. Chốc chốc cả con cá
chuối cũng cắn câu. Cậu Cẩn cầm con cá chuối chặt cổ, chìa cho con chó
cưng của cậu. Con chó của cậu cắn cổ con cá chuối co cẳng chạy. Cậu
Cẩn cất cần câu, cùng các cậu choai choai chơi cờ cạnh cổng chợ.

Chơi cờ chán chê, cậu cõng con chó. cầm con cá chép cậu chuồn. Cậu Cẩn
cho con chó của cậu chui chuồng, cậu cầm con cá chép cậu cạo, cậu
chặt, cậu cho chảo cậu chiên. Cá chín, cậu Cẩn cùng cụ Chánh chén cá
chép chiên chấm cà cuống cùng chuối chát. Con chó cưng của cậu Cẩn cứ
chập chờn cửa chuồng chở chực. Cuối cùng cậu Cẩn cho con chó chén cơm
chiên cùng chút cá chép. Con chó cạp chén cơm chui chuồng.

Cụ Chánh côi cút, cụ cũng có con chim chích choè cùng cái chuồng chim
cáo cạnh, cụ cưng con chim của cụ. Cứ chốc chốc cụ cầm cái chổi chà
chống chân, cụ chầm chậm chộp các chú chuồn chuồn chập chờn cạnh cây
cam cho con chim của cụ chén. Có chiều, cậu Cẩn cùng các chú choai
choai câu cá, câu cua chỗ cống của cậu Cử. Cậu cột con chó cưng của
cậu cạnh cửa. Con chó của cậu Cẩn cà chớn cứ chực cắn con chim của cụ
Chánh. Cụ Chánh cầm cây chổi chọc con chó, con chó co cẳng chạy. Cụ
Chánh cảnh cáo cậu Cẩn, cậu chỉ cười cậu còn cãi cối.

Cũng có chiều cậu Cẩn cần công cán chỗ công cộng. Cậu cũng cột con chó
của cậu cạnh cửa chuồng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn chơi cờ. Cụ Chẩn cũng
có con chó choai choai, cụ chẳng coi chừng, cụ cột con chó cạnh chỗ
con chim của cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cùng con chó của cậu Cẩn
cắc cớ chỉ chờ chực cắn chim của cụ Chánh.

Cụ Chánh cầm cây cố cản, con chó cứ cào cấu, cứ cằn cằn. Chợt con chó
của cậu Cẩn chồm cẳng cao cắn cái chuồng chim của cụ Chánh. Con chim
chích choè chạy cuống cuồng cầu cứu cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cắn
cụt cánh, con chó của cậu Cẩn chặn cửa cắn chân, cắn cổ con chim. Chim
của cụ Chánh cụt cẳng, cụt cánh, cuối cùng chết cứng, chỉ còn cái chân
còn cục cựa.

Cụ Chánh cay cú cầm cây cối chục cân cất cao choảng con chó. Con chó
của cụ Chẩn cà cuống co cẳng chạy. Cái cối cán cẳng con chó của cậu
Cẩn cái "cộp" chát chúa, con chó cố chạy - cụ Chánh cầm cây cuốc cuốc
cổ con chó. Con chó của cậu Cẩn chùn chân. Cuối cùng cụ Chánh chém con
chó chết cứng.

Cụ Chánh cùng cụ Chẩn cắt cổ con chó, các cụ cầm chép các cụ cạo, các
cụ chất con chó cạo vào chỗ có củi cháy.

Cẳng con chó cong cong, các cụ chờ con chó chín các cụ chặt, các cụ
cưa. Cụ Chánh cất cho cậu Cẩn cái cẳng, cái cổ. Còn cả con chó các cụ
cho chảo các cụ chiên. Con chó chết các cụ có cớ chè chén. Chó chiên,
chả chìa, củ chuối. Chốc chốc các cụ cùng chạm cốc, các cụ cười.

_________________
Vietnam Library Network
http://www.vietnamlibrary.net


Last edited by vietnamlibrary on Tue Jul 21, 2009 10:23 pm; edited 2 times in total
Back to top
View user's profile Send private message Visit poster's website
vietnamlibrary
Site Admin


Joined: 14 Jun 2007
Posts: 5761
Location: Little Saigon Southern California

PostPosted: Tue Jul 21, 2009 10:21 pm    Post subject: t Reply with quote




T

Tôn Tằng Trần Thị Thu Thủy tên thật Tôn Tằng Trần Thị Tò Te, trú tại thôn Tám, Trảng Tranh, Tỉnh Thừa Thiên. Thuở thiếu thời, trí tuệ thì thường thôi, tuy thế, tính Thủy thật thà, thủ thỉ thù thì, thỏn thà thỏn thẻn, thật thương! Tới tuổi trăng tròn, Thủy tròn trặn, tươi tắn, trắng trẻo, tay tròn trĩnh, tóc thơm thơm, thật tuyệt!
Thủy tuyệt trần, tôi tả thì thô thiển. Thôi thì tàm tạm thế.
Trai tráng trong thôn Tám, từ trai tơ tới tuổi tứ tuần, từ tuổi tứ tuần tới tuổi thất thập, thoạt trông thấy Thủy, tất thảy tấm tắc trầm trồ:

"Trời! Trắng tựa tuyết!"

"Thon thả thế!"

"Tóc thật thướt tha!"

Trai tơ thổn thức, tứ tuần tơ tưởng, thất thập thẫn thờ. Thấy Thủy thấp thoáng, tất thảy táo tác, thập thà thập thò, thật tội. Tứ tuần thách trai tơ: tán thắng Thủy thì thua tam trâu. Thất thập thách tứ tuần: tán thắng Thủy thì thua tám thúng tiền. Thách thì thách thế thôi, thua Thủy tất tần tật. Thủy tựa thần tiên, trai tráng trong thôn thì thô thiển, tiền tài trắng trơn, thân thế thấp tè, thế thì tán tới trăm tuổi!

Tiếng tăm Thủy truyền trong toàn tỉnh.Thư từ tới tấp tới tay Thủy. Thư thì thủ thỉ tâm tình. Thư thì tranh thủ trình thêm thân thế, tiền tài. Thư thì than thở tức tưởi. Thư thì thêm thơ, thêm tranh, trang trí thật trang trọng... Trong tám tháng trên tám trăm thư, thật thế!

Trai tráng trong tỉnh tìm tới tán tỉnh Thủy tới trăm thằng. Tám thằng thân tôi: Thằng Thịnh, thằng Tâm, thằng Thông, thằng Thìn, thằng Thỉ, thằng Trung, thằng Tuy, thằng Tuấn tán tỉnh tài thế, tí ta tí tởn tới tán Thủy, tốn tiền trăm tiền triệu, tiêu tiền tới trắng tay, thua tiếp tục thua. Tám thằng thất thểu tìm tới tôi than thở:

"Thôi! Tiền thế, tài thế, tập tễnh tới tán Thủy thêm thiệt thòi."

Tôi thích Thủy, tuy thế tôi tỉnh táo tự thấy: trí tuệ tôi tầm thường, tiền tài thiếu thốn, thân thế tiếng thì to, thực tình thanh thế tổ tiên thôi, thân thế tôi thấp tẹt. Tôi trù tính: thư từ tán tỉnh, trật! Tiền tài: trật! Thân thế: trật. Tổ tiên ta từng truyền tụng: tham thì thâm. Thư từ, thân thế, tiền tài... trật trật trật! Thua thua thua! Thủy thích tinh tế, trung thực, thật thà, thế thôi. Tôi tính toán thật tình tiết: từ thị trấn Tân Tiến tận tụy tới thôn Tám tìm Thủy tâm tình, từ từ, từ từ, tránh trắng trợn, tránh thô thiển, thỉnh thoảng thêm tí tranh, thêm tí thơ tặng Thủy, trời thương trời trợ thủ thì tất thành.

Trời thương tôi thật. Tới thôn Tám, thấy Thủy trơ trọi, thui thủi trên thềm, tôi thích thú thấy tôi tính toán trúng.
Tôi trấn tĩnh, từ từ tiến tới tận thềm, thì thầm:

"Thủy! Tôi tên Trí, Trần Trọng Trí, thầy thuốc Tây..."

"Trần Trọng Trí!", Thủy trầm trồ, "Thầy thuốc trị tim, trị thận, trị toàn thân thể, tiếng tăm truyền tám tỉnh!Trời, trẻ thế! Trẻ thế!" Thủy tấm ta tấm tắc.

Tôi trùng tên thầy Trí, thầy thuốc thiên tài trên tỉnh. Thủy tưởng thế, thật trúng tủ, trời toàn thương tôi!

Thấy tình thế thật thuận tiện, tôi tiếp tục thủ thỉ:

"Thủy, tôi trốn thầy, trốn thủ trưởng, trốn tránh tất thảy, từ thị trấn Tân Tiến tới tìm Thủy!"

Thủy trao tôi tách trà, thẹn thùng:

"Thủy thật tầm thường, tìm Thủy thật trớ trêu..."

Tôi tíu tít:

"Thủy! Thủy! Thủy tránh tự ti. Thủy thật tuyệt trần, tiếng thơm truyền từ tỉnh Thanh tới tỉnh Thừa Thiên, thật thế!"

"Thầy Trí tưởng thế thôi...", tiếng Thủy trong trẻo, thánh thót.

Tôi thủng thẳng tán tỉnh, thầm thầm thì thì, tu từ thật tốt, thỉnh thoảng thêm tí thán từ. Thấy Thủy thinh thích, tôi tấn tới, thả từng tiếng thật tha thiết:

"Tháng tư, tôi trông thấy Thủy tha thướt trong thị trấn. Tôi thảng thốt: Trời, tiên từ trên trời tới thị trấn! Từ tháng tư tới tháng tám, tối tối tôi thao thức, trằn trọc. Tâm thần tôi trục trặc, thân thể tiều tụy. Tưởng tượng thấy Thủy trẻ trung, tươi tắn, tôi thổn thức: Thiếu thủ trưởng thì thảnh thơi, thiếu trời thì tổn thọ, thiếu Thủy thì tắc thở! Thủy! Trái tim tôi tràn trề tình thương Thủy. Tôi tìm tới Thủy trao trọn trái tim thật thà, trái tim trong trắng, trái tim thân thương, trái tim trẻ trung, trái tim trung thực... Tôi thề, tôi trao trọn!"

Thấy tôi thề thốt thật tha thiết, thật tận tình, Thủy thấy thương thương, thẹn thò túm tóc thỏn thẻn:

"Thôi thôi, Trí thôi thề thốt..."

Thủy tin tôi, thật tuyệt! Thế thì tôi toàn trúng tủ, thật tuyệt! Tôi từ thủ thỉ tâm tình tiến tới thề thốt trầm trọng, toàn từ to tát:

"Thủy tin tôi, thương tôi thì tôi thôi thề thốt. Thủy thiếu tin tưởng thì tôi tiếp tục thề. Tôi thương Thủy, tha thiết trao trọn tình tôi tới Thủy. Thủy tuyệt tình tôi thì tôi tự tử. Tôi theo Thủy tới trăm tuổi, tôi tuyệt tình Thủy thì tôi tắc tử!"

"Trí!", Thủy thổn thức, "Thủy tin Trí, thương Trí..."

Tôi trúng to, trúng to!
Trăng tròn tháng tám thấp thoáng trong tre, trời thu tươi tốt, tiếng thu thánh thót. Tôi tấn tới tìm tay Thủy. Tay Thủy trong tay tôi.

"Thủy... Trí thương Thủy, thương tới tận tim...", tôi thì thầm

Thủy thẽ thọt từng tiếng, từng tiếng thật thương:
"Tính Thủy thật thà, thương thì thương thật. Trí tâm tình thế, Thủy tin. Tất thảy tình thương, Thủy trao trọn. Thủy tin: tình ta thắm thiết!"

Tới tháng thứ tám, tôi trâng tráo tuyệt tình Thủy. Tôi trốn tránh Thủy. Thủy tất tả tìm tôi từ tháng tám tới tháng tư, từ tỉnh Thừa Thiên tới tỉnh Thanh thì thấy tôi. Thủy túm tay tôi tấm tức:

"Trí! Thủy tìm Trí..."

"Tìm tôi? Tôi tiền thì thiếu, tài thì thấp. Tìm tôi thật trớ trêu."

"Trí!", Thủy tức tưởi thét to.

Tôi thong thả từng tiếng:

"Tình ta thế thôi. Thương tôi, Thủy tất thiệt thòi."

"Trí!'', Thủy thút thít, "Thủy trúng thai...''

"Trúng thai?'', Tôi trơ tráo tủm tỉm. "Thông tin thật trơ trẽn!''

"Trời, thằng tráo trở! Thật tởm!" Thủy tức tối thét.

Thủy tát tôi tới tấp, thụi tôi tứ tung, toàn thân tôi thâm tím. Tóc tai Thủy tơi tả, tay túm tóc tôi, tay thụi trúng thận tôi.

"Thôi!", Tôi trợn tròng, thét. "Tôi thế thôi, Thủy trách tôi thì trách! Tránh!" Tôi tức tốc thúc Thủy tránh tôi.
Tránh thoát Thủy, tôi túc tắc tới tám tư - Tô Tịch tìm Thanh Trà.
Thanh Trà thanh tú, thon thả, thơm tho... trên tài Thủy. Trà tiền tấn, tôi thì tiền thiếu, tán thắng Trà thì tiền từ túi Trà tới túi tôi tức thì. Tôi tin tôi tán Trà tất thành.

Tính Trà thận trọng, tôi tỉa tót từng từ, thêm thắt tính từ, trợ từ, thỉnh thoảng thêm trạng từ thật tốt. Trà thích thơ. Thơ Ta, thơ Tây, thơ Tàu, Trà thích tất. Trà thích tính tân tiến trong thơ Tây, tính thâm trầm trong thơ Tàu, tính trong trẻo trong thơ Ta, tuy thơ Ta thừa tính thép thiếu tính thành tâm. Thấy thế, tôi truy tầm thơ tặng Trà, toàn thơ tình, từ thơ Thâm Tâm tới thơ Thanh Thảo: trăm tập.

Trà thích thú trầm trồ:
"Trời, toàn thơ tình! Trí tặng Trà thế thì tốn tiền Trí thật..."

Tôi tìm từ thật thành thật:
"Trà, tí ti tiền, thiết tưởng thấm tháp tình Trà thân thiện tiếp tôi..."

Trà thầm thì:
"Trí thật tận tâm..."

Trà tỏ thân thiện trước tôi. Tai Trà tim tím, tức Trà thẹn thùng trước tôi, tức Trà thích tôi. Trà thích tôi thế thì tôi tiếp tục trúng to, trúng to!

Tôi trộm thơ thằng Thiều, thơ thằng Thái tặng Trà. Thơ thằng Thiều trúc trắc tựa thơ Tây, tuy thế thơ thật thanh tao. Thơ thằng Thái thì thâm thúy tựa thơ Tàu. Trà tưởng thơ tôi, tấm tắc:

"Thanh tao, thâm thúy thật! Thơ Trí trên tài thơ Trọng Tạo!"

Tôi thành thật tâm tình:
"Thơ tôi thường thôi. Trọng Tạo tài thơ từ thuở thiếu thời tới tuổi tứ tuần. Tài thế thật trân trọng. Trọng Tạo tháp tùng thủ trưởng Thỉnh, trực tờ Thơ, thân thể tiều tụy, tóc trán thưa thớt, tiền thì teo tóp, thê thiếp tứ tung, thêm trà tửu trầm trọng... Thế thì tắc thơ thôi."

"Thật tội Trọng Tạo!", Trà thở thườn thượt. "Trà thích thơ Trọng Tạo từ thuở thiếu thời. Trọng Tạo tìm tứ thơ thật tài!"

"Thế thơ Thanh Thảo, thơ Trúc Thông?" Tôi thử trí tuệ Trà.

"Thanh Thảo thông tuệ, Trúc Thông tìm từ thật tinh tế!"

"Trà thật thạo thơ!" Tôi tán.

Trà tươi tắn thỏ thẻ:
"Trước tám tư, thơ Thanh Thảo thật tuyệt. Từ trẻ thơ tới thất thập, tất thảy thích thơ Thanh Thảo. Tuy thế, Thanh Thảo thích thể thao, toàn tường thuật thể thao, thành thử từ tám tư thơ Thanh Thảo tịt từ từ, thật tiếc!"

"Trời, Trà thạo thơ thế thì thôi!" Tôi tiếp tục tán. "Thế thơ Trúc Thông?"

"Trúc Thông tìm từ thật tài. Từ trong thơ Trúc Thông thanh tao, tinh tế. Tuy thế, Trúc Thông tham từ, thiếu tình, thiếu tứ, thành thử thơ thiếu thanh thoát. Thơ toàn từ, thiếu tính thơ, thơ thế tựa thơ tắc tị!"

"Tuyệt! Trà thật thẳng thắn!" Tôi trầm trồ. "Thế thơ thủ trưởng Thỉnh?"

"Thơ thủ trưởng Thỉnh trác tuyệt, tài thủ trưởng Thỉnh trên tài tất thảy. Tuy thế, thủ trưởng Thỉnh thôi thơ từ thời thủ trưởng thành thủ trưởng. Tiếc thế! Thủ trưởng Thỉnh thích trọng trách, tìm tòi trọng trách thì thôi tìm tòi thơ. Thủ trưởng Thỉnh tiếp tục theo trên thì thơ tiếp tục thả thủ trưởng Thỉnh."

"Trúng! Trúng!" Tôi tán thành tư tưởng Trà. "Thơ trọng tình, tránh tham tiếc. Thủ trưởng Thỉnh thấy trên thương, tưởng trúng thế, thiếu tỉnh táo, thành thử tính toán trật."

Trà than thở:
"Thủ trưởng Thỉnh tính trật từ tháng tư - tám tám. Tự trong thâm tâm, Trà thương thủ trưởng Thỉnh. Tiếc thay tài thơ!"

"Tiếc thay tài thơ!" Tôi than tiếp theo Trà.

Tôi thấy trái tim Trà từ từ tròng trành.

Tôi tìm tay Trà thẻ thọt thơ:
"Tương tư từ thuở thấy Trà.
Thấy Trà trong trẻo thướt tha tôi tìm
Thương Trà thương tận trái tim
Trái tim trong trắng, trái tim thật thà
Trái tim thao thức tình ta..."

"Trời! Thơ toàn ‘T', Trí tài thế!" Trà thành thật tán thưởng.

Trà thôi trùng trình, thành thật tỏ tình thân:
"Trà thấy Trí tính tình thì thật thà, trung thực, tận tâm; tri thức thì thông tuệ, từng trải, thành thục trăm thứ. Toàn thể trai tráng trong tỉnh ta thua Trí tất."
Tôi thấy tôi thật tài, tán tỉnh thế trời thua!

Thấm thoắt tới tuần trăng tròn thứ tám. Trời thu thăm thẳm, trăng thanh thanh, tràn trề tinh tú.
Trà thở thườn thượt, tìm tờ "Tuần tin tức" trong túi, tìm tin trong tỉnh. Tôi tựa tay Trà thiêm thiếp...

Trà thúc thúc tôi, thảng thốt:
"Trí, thím Trà tự tử!"

"Thím Trà?"

"Thím Trà tên Thủy..."

"Thủy?"

"Thu Thủy thôn Tám - Trảng Tranh..."

"Trời!"

Tôi túm tờ "Tuần tin tức" tìm tin tự tử: "Trần Thị Thu Thủy thôn Tám, Trảng Tranh, theo thằng trác táng, trúng thai. Thằng trác táng tráo trở, Thủy thất tình tự tử!". "Tuần tin tức" truyền tin thống thiết!

Thôi thế thì thôi! Thủy trong trắng thế, trẻ trung thế, tại tôi Thủy tự tận! Thảm thương thay! Thê thảm thay!

"Trí! Trà thấy Trí thất thần...", Trà túm tay tôi thì thầm.

Tôi thấy tôi thậm tồi tệ, thậm thiếu tử tế, thậm thiếu thật thà, thậm thiếu trung thực. Trời, tôi thiếu toàn tính tốt! Tội tôi thật trầm trọng. Tôi túm tay Trà thổn thức thú thật tội tôi tráo trở Thu Thủy, thú tội tất thảy...

Trà trợn trừng, toàn thân tím tái.
"Trí... Trí thật tồi tệ..."

Trà trụy tim, thoi thóp thở. Tôi thét thất thanh:
"Trà!"

Trà từ từ tắt thở.
"Trà!"

Thi thể Trà trên tay tôi tê tái! Tình tôi thành tang tóc, thảm thương thay!

Từ tối Trà tạ thế, tối tối tôi trằn trọc, thao thức, thui thủi trong tối tăm. Thủy thì trong trắng, thật thà. Trà thì thơm thảo, trí tuệ. Tại tôi! Tại tôi Trà, Thủy từ trần, thăng thiên, thành tiên trên trời.

Tối thứ tư, tôi thao thức tám tiếng, tới tiếng thứ tám thì tức tốc tới tờ: "Tuần tin tức" thú tội. Thủ trưởng "Tuần tin tức" thâm thấp, tròn tròn. Tính thủ trưởng trầm tĩnh, trên thích thủ trưởng tính thật thà, tuy thủ trưởng thiếu trí tuệ. Trên toàn thích thế thôi. Thủ trưởng tập trung thao tác tờ Tết thì tôi tới. Thấy tôi, thủ trưởng từ tốn trao tôi tách trà:

"Tôi tiếp Trí thân tình, Trí từ từ tường trình thật trung thực..."

Tôi thút thít thú tội. Tội tôi tráo trở Thủy, tội tôi thiếu trung thực Trà...

Thủ trưởng trách tôi thậm tệ. Thủ trưởng tru trời:
"Thú tội thật trễ tràng!"

Tôi túm tóc tôi thét to:
"Thưa thủ trưởng, tại tôi, tại tôi tất thảy!"

Thấy tôi thật thà thú tội, thủ trưởng trù trừ, tính tha tội tôi. Thấy thế, tôi túm tay thủ trưởng thống thiết:

"Tội tôi thật trầm trọng, thủ trưởng tha thì trời trị tội tôi. Thủ trưởng thanh toán tên trác táng, tống tù tôi, thế thì tôi thanh thản."

Trái tim tôi: trái tim tráo trở, trái tim trâng tráo, trái tim thú tính. Trái tim thối tha, tanh tưởi thế thì tất thảy tránh tôi thôi, tất thế. Tiền tài, thân thế tôi thiêu thành tro than. Tôi trơ trọi từ thuở tứ tuần tới tuổi thất thập. Tết Tân Tỵ, tôi tự tay thảo truyện "Tuyệt tình" thành thực trình tới toàn thể.

_________________
Vietnam Library Network
http://www.vietnamlibrary.net

Back to top
View user's profile Send private message Visit poster's website
vietnamlibrary
Site Admin


Joined: 14 Jun 2007
Posts: 5761
Location: Little Saigon Southern California

PostPosted: Fri Aug 21, 2009 10:58 pm    Post subject: TIẾNG VIỆT-...CHA SANH -MẸ ĐẺ* Reply with quote

TIẾNG VIỆT-...CHA SANH -MẸ ĐẺ*

Dân Chơi Miệt Vườn



Phàm là con dân một nước, ai cũng hảnh diện về ngôn ngữ của mình.tiếng mình nói, chữ mình viết, tình ý thế nào đều gói ghém hết trong đó.từ một nhân vật quán chúng, siêu quần bait tụy, đén một anh chàng dân ngu khu đen đều dùng chung một ngôn ngữ và có cách diễn dạt của riêng mình.Có ăn học thi nói năng viết lách đàng hoàng, tử tế, nho phong nhã nhạn.Còn không đi học, thì chỉ cần nói cũng đủ (Không cần viết-biết gì mà viết).Nói theo cách diễn đạt rất bình dân rất sỡ sàng, trắng trợn..Tất cả đều được chấp nhận hết
Sở dĩ CNQ (cà nông Que) dùng cái tựa, Tiếng Việt ..cha sanh mẹ để, vì nghĩ cho cùng , ở đời có quá nhiều chuyện bất công...Người ta thường hay nói, tiếng mẹ để. Không có cha, mẹ đẻ khơi khơi được sao.Vậy thì phải cha sanh mẹ đẻ cho đủ nghĩa công bằng toàn tập.
Cà nông que không phải là nhà ngôn ngữ học nên không biết đẩn chúng dong dài, từ cội nguồn tiếng Cha sanh mẹ đẻ của mình, bắt đầu từ Ông A Lịch Sơn Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes)..xin cám ơn Các cha Nhâm Diên Tích Quang Sĩ Nhiếp của hệ thống đô hộ Thái Thú Ba Tàu từ đời Hán (Hai Bà Trưng ở VN), theo Mã Viện sang đây xâm lược theo cái nghĩa bành trướng Bắc Kinh, góp công vào việc dịch thuật tiếng Tây ra tiếng Hán hẹp...Paris thì dịch là Ba Lê, Montesquieu , dịch là Mạnh Đức Tư Cưu,, Inspiration dịch Yên sĩ phi lý thuần Wasinghton là Hoa Thịnh Đốn, Pékin là Bác Kinh, Taipei là Đài Bắc, Mao-Tsé Tung là Mao Trạch Dông v.v...và v.v..Người ta âm một danh từ riêng ra tiếng Việt cho người Việt đọc và hiễu..mà thật ra , không hiễu gì hết...bởi mot lẻ dễ hiễu, nếu chỉ biết Ngưỡng Quang là Thủ Đô Miến Diện hay Đông Kinh là thủ phủ của nước Nhật, khi dở bản đồ thế giới ra một học sinh Trung học của ta bây giờ , có khi ..ngẩn tò te, không bao giờ tìm thấy những từ quái ác đó nằm chỗ nào
Nhưng ở dây Cànông que không dám bàn chuyện dịch , âm tiếng gì hết, mà chỉ muốn nói đến cái lắc léo trong tiếng cha sanh mẹ để của mình thôi..Người Việt Nam , ai cũng tự hào cho là tiếng Việt của mình phong phú.Trước 1956, Sàigòn không có bằng Trung Học Đệ Nhất cấp, Tú Tài , tiếng Việt.Học sinh mít Giao chỉ , lo học bằng câp tiếng Tây, tiếng U để nghe thầy giáo made in France dạy nằm lòng câu "Nos ancêtres sont des Gaulois".Tây nó nhồi sọ phe ta dữ lắm.Có nhồi sọ, tư tưởng mới thấm, và có thấm mới có hùa theo..Một trăm năm thuộc Pháp, dân ta, kể cả đồng bào miến núi, học theo Tây nhiều lắm, học đã đời rồi vác tầm vong rượt tây chạy mất luôn.Cái đạo lý Phương Đông, dã giúp cho Ông thầy Albert Sarault, từ Pháp bay qua Hànội để xin với Ông Cọng sản cho tạm thời Đình chiến để phi cơ Hông Thập Tự Pháp đáp xuống lòng chảo Điện Biên Phủ an toàn hầu cứu lấy những thương bình .Khi các nhà chinh trị bó tay, thì tình nghĩa thầy trò đưộc khai thác đúng mức (Đây là chuyện bên lề, nhưng có thật về những ngày chiến tranh xãy ra ở vùng Diện Biên Phủ, ai quan tâm đều biết)
Cànông que có tật dong dài, nhưng nghĩ kỹ cũng rất cần.Có thầy uốn nán chữ nghĩa mới đfi đúng đường, đúng hướng.
Không cần phải nhắc đến chữ Hán hay Nôm, hay gi gì hết.tiếng Việt là một sin h ngữ, Điều nầy không ai chối cải.Sinh Ngử, có nghĩa là ngôn ngũ để ra hoài.Càng dùng càng biến dạng...Chẳng hạn, chê một việc gi không đúng, ban dầu người ta chỉ nói SAI, TRẬT, dần dà biến thành TRỚT HƯỚT, TUỘT LUỐT,mĩa mai , móc họng thì hỏi PHẢI VẬY HÔN? Rồi tăng tốc cho kịp thời đại, thì ..BỎ ĐI TÁM...ĐỂ HỎI LẠI COI...muốn gat ngang, dứt khoát hơn thì XƯA RỒI DIỄM...Chữ nghĩa có trinh tự của nó, tùy theo biến thiên cũa sinh hoat xã hội.
Thấy cái gì của người ta lấy làm của mình , bình dân và rõ ràng, gọi là ĂN CẮP.Đụng cái gì cũng lấy là ĂN CẮP VẶT. Tiếng giang hồ thì nói là LỤI-CHÔM hay CHỈA, hay MỎI Vê sau văn chương bóng bay hơn thi nói là CHÀ ĐỒ NHÔM (nói láy của CHÔM ĐỒ NHÀ)
Nói chung là vì chúng ta chưa có một từ điển Thổ Ngơi (tiếng lóng) cho nên những từ ngữ tự phát ngày càng nhiều , chỉ dươc trưyên tụng đi theo tùng vùng lan rộng ra.
Tiếng lóng càng nhiều, chứng tỏ sinh hoạt xã hộingày càng phức tạp.Mụ TàiPán, hay em Tài Pán chỉ huy các cava ở Vũ Trường, dược dổi tên gọi là MÁ và các mẹ làm nghề buôn bán "VỐN CÓ SẴN" , nói theo Ông Nguyễn Du, một thi hào khả kính của chúng ta, từng đi Sú nước Tàu, tức làm đến chức đặc sứ ngoại giao, cũng rành rẽ lắm khi tả một mụ Tú Bà, hay dân làng chơi thời thượng gọi là TÀO KÊ"
-Nhát trông nhờn nhợt màu da
Con người to lớn đẫy đà làm sao.."
Cụ Tiên Điển rất nho nhả, đàng hoàng vậy mà cũng...Vành ngoai bảy chũ vành trong tám nghề, phe ta hết thôi
Chưa hết đâu, Tiếng Việt nổi tiếng vói năm dấu : sắc, huyền hỏi ngã nặng.Có lẻ trên cỏi đời "c'est la vie" và tình "c'est l'amour" nầy, không có chữ nào nhiều dấu như vầy.Các dấu nầy đã biến tiếng Mẹ đẻ cha sanh của chúng ta thành ra thiên biến vạn hoá, nhất tự lục nghì (một chũ sáu nghĩa) nói xuôi nói nguọc, diễn dịch cở nào cũng trúng, cũng trật dược hết
Chuyện kể, có một chỗ kia người ta dựng bảng kẻ chũ to' CẤM KHÔNG ĐƯỢC VÀO'. Có người ngang nhiên đi vào.Bị bát vì không tuân lệnh.Người nhà đi khiếu nại ra chốn công dường.người ấy biện giải như sau:
-Cấm không dược vào, có nghĩa là CHO VÀO vì phân tích kỹ ra thì
KHÔNG DƯỢC VÀO, là chẳng cho ai đi vô chỗ đó hết
Giởù lại CẤM.....KHÔNG ĐƯƠC VÀO không phải là Cho Vào hay sao?
Một lốc cốc sư, ngồi đầu cầu, coi chỉ tay.Một cô gái đến nhờ thầy xũ cho một quẻ, vì rằng cha cô vừa qua dời, nhưng ở xa quá, cô kjhông về kịp, không biết cha mất vào ban ngày hay ban đêm để lo cúng kiến.Thầy bèn cầm tay cô lên rồi phán rằng:
-Cha cô số chết ban ngày
Bây giờ cô gái mới phản ứng:
-Nói đùa với Ông để thử tài Ông thôi chớ cha tôi đâu có phải chết ban ngày.
Lốc cốc sư điềm nhiên trể mắt kiếng xuống cười nhẹ
-Tôi nói chưa hết.Sao cô không chịu im lặng lắng nghe (cô nói huỵch tẹt ..là tại cô thôi)
Đúng ra là cha cô số chết ban ngày]
Nhưng vì
Thương nhớ vợ chết rày ban đêm
Trúng không? Tiên sư Ông thầy bói tráo trở như nưóng bánh phồng.Chữ với nghĩa

Có lễ chính vi sợ ngôn ngữ nào cũng nhiêu khê, rác rối, lật lọng, viết một đàng hiễu một nghĩa nên ở Liên Hiệp Quốc mới có qui định, thoả ước chung, bất cứ một hiệp ước, thoả hiệp, nghị định thư gì đó cũng phải dịch ra thành năm thứ tiếng khác, để lỡ các cha có treo đầu dê, bán thịt chó , thì thiên hạ còn có đường mò, chứ Không dịch ra, mặc sức mà nói ngược
Một bà ngồi bên cạnh một ngôi mồ mới đắp khóc tì tê.Người qua đường thương cảm, bèn hỏi ngôi mồ chôn ai mà chị khóc, thi người đàn bà khổ sở đó mới nói lý lịch người chết cho người ta nghe
-Cha nó là rễ cha tôi.Cha tôi làm sui với Ông nội nó.
Người chết là CON bà ta mà phải dài dòng như vậy, rõ ràng tiếng cha sanh mẹ để rắc rốì thay.
Chính vì nhiều nghĩa, nói xuôi nói ngưọc đều dược hết cho nên, trong kho tàng văn học VN mới có lắm giai thoại.Từ nói láy, nói ngược, câu đối hò vè, thảy thảy đều cho thấy sự phong phú của tiếng VN,độc đáo ở chỗ, ngữ pháp không chi phối hết cách nói và viết tiếng Việt
Cău đới xưa rắc rối đã dành mà câu dối nay cũng không kém phần nhức nhối
Trai Hốc Môn vừa hôn vừa móc
Gái Gò Công vừa gồng vừa co
Trời đất ơi có xứ sở nàocó nhũng đia danh"trần ai lai khổ"không ?
Tiếng Việt mẹ đẻ cha sanh còn biết bao nhiêu điều để nói...và không bao giờ hết

Dân Chơi Miệt vườn
_________________
Vietnam Library Network
http://www.vietnamlibrary.net

Back to top
View user's profile Send private message Visit poster's website
Display posts from previous:   
Post new topic   Reply to topic    Vietnam Library Network, Overseas Vietnamese - Người Việt Hải Ngoại Forum Index -> Vietnam National Language Academy - Văn Lang Corner All times are GMT - 8 Hours
Page 1 of 1

 
Jump to:  
You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot vote in polls in this forum


© 2007-2008 Informe.com. Get Free Forum Hosting
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group